0904.919.916   0985.733.310   ntlien@hpmu.edu.vn

Bệnh Trái Rạ (Thủy Đậu)


 

Bệnh thủy đậu hay còn được gọi là bệnh trái rạ hay bệnh phỏng dạ là một bệnh truyền nhiễm hay gặp trên người, do một chủng virus herpes là Varicella Zoster virus (VZV) gây ra. Căn bệnh này hay gặp nhất ở trẻ em và thường không quá nguy hiểm. Tuy nhiên ở các đối tượng khác như người lớn, phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch, tác động của virus VZV có thể nghiêm trọng hơn.
Thời kì ủ bệnh thủy đậu: kể từ lúc phơi nhiễm với virus cho đến khi xuất hiện triệu chứng thủy đậu thường kéo dài từ 10–21 ngày, trung bình là 14 ngày.

 

 

 

Khởi phát bệnh thủy đậu:

Cơ thể có sốt nhẹ 37 – 38 oC, đôi khi sốt cao đến 39 – 40 độ;

Người mệt mỏi, đau đầu, đau họng

Nổi các nốt phỏng: Ban đầu là các nốt nhỏ màu hồng, sau đó nổi gồ lên da và sau 24 giờ trở thành nốt màu hồng có phỏng nước trong. Các nốt phỏng thường rất ngứa, xuất hiện rải rác khắp cơ thể mà nhiều nhất là trên mặt, ngực, da đầu và chân tóc. Nếu như bệnh nhân không kiểm soát được mà hay gãi thì rất dễ làm vỡ các nốt này. Các nốt phỏng tồn tại khoảng 4 ngày, khoảng từ ngày thứ 10 trở đi bắt đầu bong vảy và thường không để lại sẹo.

 

  

Bệnh có thể lên đến 500 mụn trong suốt quá trình bệnh

 

Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh thủy đậu

 

Một đặc điểm quan trọng của virus VZV là chúng có thể lây lan từ người này qua người khác ngay cả khi chưa xuất hiện bất kì triệu chứng nào. Ở một số bệnh nhân có cơ địa đặc biệt như người suy giảm miễn dịch (người mắc u lympho, bệnh bạch cầu hoặc điều trị corticoid kéo dài), virus VZV có thể dẫn tới tình trạng nhiễm trùng nặng, các nốt phỏng thường hoại tử và chảy máu. Virus VZV có thể khu trú gây tổn thương ở các cơ quan nội tạng như phổi, gan, thần kinh và gây đông máu trong lòng mạch.

Mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh thủy đậu, tuy nhiên nguy cơ đó gia tăng nếu người đó chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh và ở trong những trường hợp sau:

Cùng sống trong một môi trường với người bị thủy đậu

Tiếp xúc với người bị thủy đậu từ một giờ trở lên.

Có hệ thống miễn dịch bị tổn thương.

 

 

*** Bệnh lây bằng cách nào?


+ Bệnh trái rạ rất dễ truyền nhiễm và lây lan bằng sự tiếp xúc trực tiếp những dịch tiết trong không khí từ miệng hay mũi của một người bị nhiễm trái rạ (ví dụ khi hắt hơi, nhảy mũi hoặc ho). Bệnh trái rạ phát triển trong vòng 10-21 ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh.

+ Bệnh trái rạ có thể lây từ 1-2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).

+ Những người có hệ miễn dịch suy yếu khi mắc bệnh trái rạ thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn trái rạ của họ đóng vảy.

+ Khoảng 90% những nguời chua từng bị trái rạ sẽ mắc bệnh nếu tiếp xúc với một nguời thân trong gia đình bị nhiễm bệnh.

 

*** Chẩn đoán bệnh


+ Bệnh trái rạ thường được chẩn đoán dựa trên các triệu chứng và hình dạng của ban ngứa ở người mà trước đó chưa từng bị hoặc chưa được tiêm chủng.

+ Thỉnh thoảng, xét nghiệm được dùng để xác định bệnh nếu việc chẩn đoán không chính xác hoặc nếu như bệnh rất nghiêm trọng

 

*** Phòng ngừa


+Tiêm vắc xin là cách tốt nhất để phòng chống bệnh trái rạ và các biến chứng của bệnh này.

+Tiêm phòng 2 liều được đề nghị nên dùng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở đi, cho thanh thiếu niên và người lớn chưa từng bị trái rạ hoặc trước kia chưa được tiêm chủng.

+Tất cả các trẻ em nên tiêm liều vắc xin đầu tiên từ 12-15 tháng tuổi

+ Liều thứ 2 thường được đề nghị cho tất cả các trẻ em từ 4-6 tuổi

+ Trẻ em từ 13 tuổi trở lên và những người lớn chưa có bằng chứng đã được miễn nhiễm trước đó sẽ chích 2 liều vắc xin cách nhau 4-8 tuần.

+ Liều vắc xin nhắc lại được khuyến cáo cho trẻ em, thanh thiếu niên và những người chỉ mới nhận 1 liều trước đây. Các liều nên cách nhau ít nhất 3 tháng cho trẻ từ 12 tháng đến 12 tuổi, và ít nhất 4 tuần cho trẻ từ 13 tuổi trở lên.

+ Thông thường vắc xin sẽ có tác dụng phụ nhẹ như sốt và phát ban nhẹ xảy ra từ 5-26 ngày khi khi tiêm ngừa.

+ Bạn không cần phải tiêm ngừa nếu bạn đã mắc bệnh trái rạ. Nếu như bạn không chắc chắn đã mắc bệnh hay chưa, hãy liên hệ trung tâm y tế để được xét nghiệm máu.

+ Vắc xin bệnh trái rạ có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa bệnh, đặc biệt ngừa được những trường hợp nghiêm trọng và các biến chứng của nó.

 

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Nhiễm khuẩn ngoài da là biến chứng hay gặp nhất của bệnh thủy đậu. Các nốt phỏng xuất hiện ngoài da thường rất ngứa khiến cho người bệnh hay gãi, nếu không cẩn thận sẽ bị vỡ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập đặc biệt là liên cầu và tụ cầu. Trong một số trường hợp, biến chứng này có thể trở nên trầm trọng hơn.

 

Ở phụ nữ có thai, bệnh thủy đậu có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho thai nhi. Nếu mắc bệnh trong 3 tháng đầu của thai kì sẽ có thể gây bệnh lý với phôi thai như mất chi, viêm tắc võng mạc, đục thủy tinh thể. Còn trong trường hợp mắc bệnh khoảng 5 ngày trước khi sinh, thì trẻ sinh ra sẽ bị thủy đậu bẩm sinh do bị nhiễm virus vào máu và thường dẫn đến tử vong.

 

Ngoài ra, thủy đậu cũng có thể gây nên một số biến chứng khác nhưng ít gặp hơn, cụ thể bao gồm:

Viêm phổi do thủy đậu:

Viêm phổi có thể xuất hiện nếu virus VZV xâm nhập vào hệ hô hấp. Tỷ lệ bị biến chứng này ở bệnh nhân thủy đậu vào khoảng 20%, phổ biến nhất ở trẻ vị thành niên, người lớn và phụ nữ có thai.Người hút thuốc lá, người bị bệnh phổi hoặc người suy giảm miễn dịch cũng dễ bị tổn thương bởi biến chứng này.

 

Biến chứng thần kinh (viêm não):

Đây là biến chứng hay gặp ở trẻ nhỏ, xuất hiện khoảng 5 – 10 ngày sau khi các nốt phỏng xuất hiện. Ở trẻ em, viêm não do thủy đậu thường ở vùng tiểu não và được gọi là chứng mất điều hòa tiểu não cấp tính (acute cerebellarataxia). Ở người lớn, biến chứng này xuất hiện ở một vùng não lớn hơn và cũng nguy hiểm hơn. Viêm não thường gây ra triệu chứng như sốt đột ngột, nhức đầu, li bì, mẫn cảm với ánh sáng và buồn nôn, thậm chí gây co giật và liệt. Trong trường hợp này không thể tự điều trị tại nhà mà phải đưa bệnh nhân tới bệnh viện.

 

Suy giảm thị giác:

Xảy ra khi virus VZV xâm nhập vào giác mạc, để lại các vết sẹo và gây viêm giác mạc, gây tổn thương đến mắt.

 

Hội chứng Reye:

Có thể xuất hiện nếu bệnh nhân thủy đậu nhỏ tuổi dùng aspirin. Do đó, không được chỉ định aspirin cho bệnh nhân thủy đậu dưới 20 tuổi.

Ngoài những biến chứng trên, bệnh nhân thủy đậu còn có thể bị một số hiện tượng khác như viêm cơ tim, viêm khớp, viêm cầu thận, viêm thận, xuất huyết nội tạng, ban xuất huyết giảm tiểu cầu…

 

Điều trị bệnh thủy đậu

 

Đối với các nốt phỏng có thể cần sát trùng ngoài da bằng xanh methylen, kết hợp với các thuốc kháng histamin để giảm ngứa. Đối với căn nguyên gây bệnh là virus VZV nên dùng acyclovir nếu tiên lượng có thể xuất hiện biến chứng trong vòng 24 giờ đầu khi các nốt phỏng xuất hiện.

 

Trong trường hợp có biến chứng: tổn thương viêm da mủ do tụ cầu  điều trị bằng oxacillin hoặc vancomycin, biến chứng viêm phổi điều trị bằng kháng sinh cephalosporin thế hệ ba (ceftazidim) hoặc nhóm quinolon (levefloxacin). Chú ý không dùng kháng sinh quinolon cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 12 tuổi.

 

Theo Đông y, thủy đậu là bệnh nông, nhẹ, ở phần vệ, rất ít gặp ở phần huyết. Tùy theo thể nặng hay nhẹ, có thể áp dụng những bài thuốc đông y để chữa trị.

 

 

 

HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN TỐT NHẤT

Thạc sĩ, bác sĩ: Nguyễn Thị Liên

 Giảng viên Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.

ĐT – Zalo - Facebook: 0904. 919.916

 

 
Chúng tôi cam kết mang đến
Liên hệ

GIỜ LÀM VIỆC: Thứ 2 đến thứ 6: 17h - 20h. Thứ 7, chủ nhật: Sáng 8h - 11h, Chiều 15h - 20h
Địa chỉ: 368 Tô Hiệu, Lê Chân, Hải Phòng
Điện thoại: 0904.919.916 | 0985.733.310
Zalo: 0904919916